Vắc Xin Phòng Dại – Verorab

Nguồn gốc: Sanofi pasteur

Phòng bệnh

Vaccine này được khuyến cáo dùng để phòng bệnh dại cho các đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm cao:

Trước phơi nhiễm:

Tất cả những người có nguy cơ thường xuyên, chẳng hạn như nhân viên làm việc ở phòng thí nghiệm chẩn đoán, nghiên cứu và sản xuất có liên quan đến virus dại thì nên tiêm ngừa.  Nên làm huyết thanh chẩn đoán mỗi 6tháng. Nên tiêm mũi nhắc lại khi định lượng kháng thể dưới ngưỡng bảo vệ: 0,5IU/ml.

Những đối tượng sau nên tiêm ngừa dại vì thường xuyên cónguy cơ nhiễm bệnh dại:

  • Bác sĩ thú y (và trợ lý), người canh giữ săn trộm thú, thợ săn, nhân viên kiểm lâm, người làm ở lò mổ thịt, người nghiên cứu về hang động, người làm nghề nhồi bông thú…
  • Người đến vùng có dịch bệnh súc vật: trẻ em, người lớn vànhững người du lịch đến những vùng này.

Sau phơi nhiễm:

Sau khi xác định hay nghi ngờ phơi nhiễm, phải tiến hànhtiêm vaccine ngay lập tức để làm giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh dại. Tiêm vaccine dại phải được thực hiện ở một Trung tâm điều trị bệnh dại.

Việc điều trị được áp dụng tùy theo loại vết thương và tìnhtrạng con vật.

 

Lịch tiêmVerorab vaccine

Không tiêm mạch máu: phải chắc chắn rằng mũi kim không đâmvào mạch máu. Immunoglobulins và vaccine dại không được sử dụng cùng một bơm tiêm hay tiêm cùng một vị trí.

Một liều tiêm trong da là 0.1 ml vaccine hoàn nguyên, nghĩa là bằng 1/5 liều tiêm bắp. Tiêm vaccine ở người chưa tiêm dự phòng: Phác đồ”2-2-2-0-1-1″ được khuyên dùng:

  • Hai mũi tiêm trong da, mỗi mũi 0,1 ml tại hai vị trí khác nhau vào Ngày 0, Ngày 3, Ngày 7.
  • Một mũi tiêm trong da 0,1 ml tại một vị trí vào ngày 28 (hoặc Ngày 30) và Ngày 90. Tiêm vaccine ở người đã tiêm dự phòng (xem địnhnghĩa ở phần trên): Tiêm nhắc khẩn cấp: 0,1 ml vào Ngày 0 và Ngày 3.

Thận trọng đặc biệt khi tiêm trong da:

Điều cơ bản là việc tiêm Verorab bằng đường tiêm trong da chỉ được phép thực hiện bởi nhân viên y tế đã được huấn luyện về kỹ thuật này để đảm bảo rằng vaccine được tiêm trong da chứ không phải là tiêm dưới da.

Khi tiêm trong da, thích hợp nhất là dùng bơm tiêm tiệt trùng có sẵn kim tiêm (loại bơm kim tiêm insulin).

Mỗi người phải được dùng bơm và kim tiêm tiệt trùng để rút và tiêm từng liều vaccine nhằm tránh lây nhiễm qua lại. Tiêm trong da đúng kỹt huật sẽ tạo nên một “nốt phồng da cam”. Nếu vaccine được tiêm sâu quá thì sẽ không thấy nốt sần này, phải rút kim ra và tiêm lại ở một vị trí gần đó.

Verorab không chứa chất bảo quản, do đó, vaccine đã hoànnguyên cần được bảo quản cẩn thận để tránh lây nhiễm..

Không được tiêm trong da (ID) trong những trường hợp sau:

  • Những người đang điều trị dài ngày bằng corticosteroid haycác thuốc ức chế miễn dịch khác hay chloroquin,
  • Những người bị khiếm khuyết miễn dịch,
  • Những người, đặc biệt là trẻ em, bị những vết cắn nặng, đặc biệt là ở vùng đầu và cổ, hay đến khám trễ sau khi bị vết thương.

Chống chỉ định

Chống chỉ định trong những trường hợp sau:

Trước phơi nhiễm:

Sốt nhiễm trùng nặng, bệnh cấp tính, đợt tiến triển của bệnhmạn tính (tốt nhất nên hoãn việc tiêm vaccine),- Biết mẫn cảm với bất kỳ thànhphần nào của vaccine.

Sau khi phơi nhiễm:

Vì nhiễm virus dại có những diễn tiến nguy hiểm chết người,nên không có chống chỉ định tiêm vaccine điều trị.

Bảo quản

Bảo quản lọ vacxin trong điều kiện 2-80C trong tủ lạnh

Ghi chú

Sử dụng thận trọng ở người biết bị dị ứng với neomycin (hiệndiện vết trong vaccine).

Không tiêm mạch máu: phải chắc chắn rằng mũi kim không đâm vào mạch máu.

Immunoglobulins và vaccine dại không được sử dụng cùng một bơm tiêm hay tiêm cùng một vị trí.

Xét nghiệm huyết thanh học (thử nghiệm trung hòa kháng thể bằng kỹ thuật RFFIT (Rapid Fluorescent Focus Inhibition Test) phải được thực hiện ở những người tiếp tục có nguy cơ nhiễm virus dại (mỗi 6 tháng) và có thể thực hiện mỗi 2 đến 3 năm sau mũi tiêm nhắc lúc 1 năm sau và lúc 5 năm sau ở những người có nguy cơ không thường xuyên tùy theo sự đánh giá nguy cơ phơi nhiễm.

Ở những người suy giảm miễn dịch, có thể thực hiện xét nghiệmnày lúc 2 đến 4 tuần sau khi tiêm vắc-xin.

Nếu kết quả xét nghiệm chuẩn độ kháng thể dưới 0,5 IU/ml, ở những người suy giảm miễn dịch, cần thiết phải tiêm mũi nhắc hay mũi bổ sung.

Vaccine này không được tiêm vào mạch máu.

– Corticosteroids và các điều trị ức chế miễn dịch có thể làm giảm sản xuất kháng thể và việc tiêm vaccine sẽ không hiệu quả. Do đó, tốt nhất 2 đến 4 tuần sau khi tiêm mũi vaccine cuối nên làm xét nghiệm đo độ trung hòa kháng thể.

Giống như các hoạt chất khác, ở một số người dược phẩm này có thể gây ra những tác dụng không mong đợi ở nhiều mức độ khác nhau:

  • Các phản ứng tại chỗ nhẹ: đau, quầng đỏ, sưng, ngứa và nốt cứng tại nơi tiêm.
  • Các phản ứng toàn thân: sốt vừa, run rẩy, ngất, suy nhược,đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau cơ, rối loạn dạ dày-ruột (buồn nôn, đau bụng).
  •  Ngoại lệ, sốc phản vệ, mày đay, ban đỏ.